Thứ hai, ngày 14 tháng 4 năm 2008

Thất bại của “Facebook” Việt?

Facebook Vietnam

Bài này đã viết khá lâu – ngày 22/3/2008 và ban đầu có một phần về một ý tưởng của tớ về mô hình của một mạng xã hội Việt Nam, định sẽ viết chi tiết hơn rồi mới đưa lên. Tuy nhiên, tuần này và tuần sau sẽ bận thi cuối kỳ nên có lẽ tớ sẽ không có thời gian để cập nhật Người Tập Viết, vậy nên tớ tạm cắt phần ý tưởng đó ra và sẽ đưa lên sau khi được chỉnh sửa chi tiết hơn.

Trên blog của HarryD vửa có một bài viết mới so sánh về những bản nhái Facebook của Việt Nam nhân dịp một dịch vụ mới của Công ty Cổ phần Truyền Thông Việt Nam (VC Corporation) Zoomban.com (tớ dịch từ bài viết tiếng Anh):

Cuộc cạnh tranh giữa các bản nhái Facebook của các công ty Việt Nam giờ đây trở nên kém thú vị bởi chúng ta dường như đã xác định được người có khả năng dẫn đầu [ý nói đến Zoomban với các lợi thế đầu tư của VC - NTV]. Điều thú vị hơn là người chiến thắng bằng cách nào sẽ thu được lợi nhuận từ dịch vụ của mình và tự mình tạo ra những nét riêng so với Facebook. Từ góc nhìn cá nhân, tôi vẫn cho rằng Facebook là một hiện tượng duy nhất ở Mỹ và bất kỳ nỗ lực nào để sao chép nó ở các quốc gia với nền văn hoá khác đều sẽ là rất mạo hiểm – với dịch vụ Xiaonei của Trung Quốc là một ví dụ minh hoạ.

Không hoàn toàn đồng ý với HarryD, tớ cho rằng thất bại của những mô hình “nhái” của Facebook hiện nay không phải xuất phát từ yếu tố văn hoá. Sự phổ biến của blog và gần đây là những dịch vụ chia sẽ như Clip.vn đã chứng tỏ rằng giới trẻ Việt Nam hoàn toàn không ngại chia sẽ và có xu hướng tiếp cận rất nhanh đối với những xu hướng mới về công nghệ…

Điểm qua những dịch vụ được đề cập đến trong bài viết gồm FaceViet, Gương Mặt, Tầm tay, tớ hoàn toàn không có chút ấn tượng đặc biệt nào đủ để lôi kéo tớ đăng ký tạo một tài khoản ngoài mục đích thử nghiệm. Không biết Zoomban.com sẽ như thế nào bởi ở thời điểm hiện tại dịch vụ vẫn chưa chính thức ra mắt – nhưng ấn tượng chung về trang chủ từ góc nhìn về tính năng và thiết kế là không mấy ấn tượng và chẳng kỳ vọng gì nhiều. Ngay cả liên kết giới thiệu về dịch vụ vẫn chưa có nội dung, và nếu được đầu tư lớn thì làm sao có chuyện một trang web (dù chưa chính thức ra mắt) lại chẳng có nội dung gì giới thiệu ngoài một hình ảnh mấy cô mặc áo dài kiểu “sexy” và còn lại là toàn những hình ảnh không phải của Việt Nam?1

Từ góc nhìn của tớ, thất bại của những dịch vụ này trong việc “nhái” thành công của Facebook xuất phát từ nhiều yếu tố mà không hẳn hoàn toàn là vì sự khác biệt về văn hoá:

  • Copy một cách rập khuông và cẩu thả – về cả tính năng lẫn thiết kế. Những ứng dụng nhái của Việt Nam làm tớ liên tưởng đến câu nói của thầy giáo cấp 2: ngay cả chép bài từ sách hướng dẫn thì ít ra cũng phải học cách chép, ít ra cũng phải biết thay thế các con số đó trong khi chép chứ. Ví dụ, từ góc nhìn của người thiết kế web, tớ cho rằng bất cứ ứng dụng nào muốn thu hút được giới trẻ Việt Nam thì giao diện là một phần không thể bỏ qua. Không giống như người phương Tây, giới trẻ châu Á đặc biệt bị cuốn hút bởi màu sắc và những hình ảnh bắt mắt. Việc sao chép đến ngay cả như tông màu xanh như Gương Mặt hay Tầm Tay thì thất bại là một điều chắc chắn.
  • Những dịch vụ này được giới thiệu một cách quá nôn nóng, đặc biệt là khi mà bản thân các công ty đằng sau cũng chưa thật sự xác định được mình sẽ làm nên sự khác biệt như thế nào. Điều này thể hiện ngay trong trích đoạn thể hiện góc nhìn của Harry ở trên: việc suy nghĩ tạo những nét riêng chỉ đến sau khi đã ra mắt dịch vụ.
  • Thiếu cơ sở nền tảng người dùng. Việc có quá nhiều những dịch vụ nhái giống nhau – và không có dịch vụ nào thể hiện được sự vượt trội – khiến cho cộng đồng người dùng mạng xã hội kiểu này ở Việt Nam và những thời điểm ban đầu như thế này vốn đã ít lại càng phân tán hơn. Điều này dẫn đến một hiệu ứng dây chuyền theo kiểu con gà – quả trứng: cộng đồng càng ít người sử dụng thì lại ít có khả năng thu hút người dùng mới gia nhập.
  • Không xác định được đối tượng hướng đến – hoặc là họ xác định sai. Có thể nói, thành công của Facebook ở thời gian đầu là ở chỗ họ biết tập trung vào một đối tượng rất đặc biệt: học sinh – sinh viên, tạo ra những tính năng đặc biệt dành cho những đối tượng này (ví dụ như kết bạn theo trường, lớp,…). Mặc dù giờ đây Facebook không còn chỉ giới hạn trong giới học sinh-sinh viên, nhưng có thể nói đó là một hệ quả của việc những người sinh viên trước đây nay ra trường tiếp tục sử dụng Facebook.

Những nhận định trên của tớ chung qui lại đều dẫn đến một kết luận: việc ra mắt bất kỳ một dịch vụ nào mới ở thời điểm hiện tại mà không thật sự nổi bật so với các dịch vụ khác sẽ chỉ khiến tất cả cùng chết chìm trên một con đò. Nói cách khác, Zoomban.com sẽ chỉ làm tình hình tệ hơn nếu bản thân nó cũng chỉ cung cấp được những tính năng mà mọi người đều có: kết bạn (bao gồm tính năng kết bạn theo trường lớp), viết blog, gửi ảnh, nghe nhạc.Rất có thể, lợi thế về đầu tư và đội ngủ khuếch trương từ VC sẽ đem lại cho Zoomban một chút may mắn hơn những dịch vụ khác – nhưng từ những gì thể hiện trên trang chủ hiện tại của Zoomban thì dự đoán của tớ là điều đó có lẽ sẽ không xảy ra.2

Chú thích trong bài:

  1. Zoomban sau đó đã sử dụng các hình ảnh của Việt Nam []
  2. Có vẻ như ZoomBan được quảng cáo với tính năng cung cấp một nền tảng cho phép người dùng có thể phát triển ứng dụng trên đó – như kiểu của Facebook hiện nay. Tớ không tin tưởng lắm rằng điều này sẽ làm nên sự khác biệt. Đây một lần nữa sẽ lại là bài toán con gà – quà trứng: người ta chỉ phát triển ứng dụng cho một nền tảng nào đó nếu nền tảng đó cũng được chấp nhận bởi rất nhiều người. Facebook cũng chỉ cho ra nền ứng dụng của họ sau khi đã chứng minh được sự phổ biến của họ. Mặt khác, phải nói rằng phần lớn các ứng dụng kiểu này đều không phải là những ứng dụng độc lập mà chỉ là những ứng dụng cho phép tích hợp những dịch vụ khác vào mạng xã hội vốn có. Đã có bao nhiêu ứng dụng web 2.0 được sử dụng phổ biến ở Việt Nam hiện nay? []

Phân mục Máy tính / Công nghệ
Chủ đề bài viết gồm , , ,

Phản hồi về bài viết

Chú ý: Bạn có thể dụng định dạng @ + tên + ':' để trả lời cho người khác tham gia trong phần thảo luận (người đó sẽ nhận được thông báo bằng email về phản hồi của bạn). Ví dụ, nếu Nguyen A có tham gia trong cuộc thảo luận và bạn muốn trả lời cho ý của A, bạn có thể dùng "@Nguyen A: nội dung".